CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI HUỲNH RẠNG Blog (Lập ngày 21-10-2010)


THỜI GIAN SỐNG CỦA CON NGƯỜI KHÔNG DÀI; HÃY SỐNG NHƯ THẾ NÀO CHO ĐỜI NGƯỜI CÓ Ý NGHĨA .

Bạn hãy nghĩ về cuộc đời mình đã có ý nghĩa chưa? đã làm được gì cho gia đình, bạn bè và mọi người? Một việc dù nhỏ nhưng tạo ra hạnh phúc cho mình và người khác thì đã góp phần cho cuộc sống ta có ý nghĩa.

Thứ Tư, 1 tháng 12, 2010

Sưu tầm “hát ru con”

       Từ lâu, những người nuôi trẻ nhỏ khắp trên thế giới đã biết dỗ chúng ngủ bằng cách hát ru con. Hát ru là những bài hát nhẹ nhàng đơn giản giúp trẻ con ngủ. Phần lớn các câu trong bài hát ru con lấy từ ca dao, đồng dao, hay trích từ các loại thơ hoặc hò dân gian được truyền miệng từ bà xuống mẹ, thế hệ trước sang thế hệ sau. Do đó, những bài hát này rất đa dạng, mang tính chất địa phương, gần như mỗi gia đình có một cách hát riêng biệt.
        Trong hát ru thường chỉ chú ý đến lời (ca từ) còn giai điệu (nhạc lý) thì mỗi bà mẹ có một giọng trữ tình riêng nhưng vẫn gây ấn tượng sâu sắc trong suốt cả cuộc đời người con. Như:
 1. Trâu ơi ta bảo trâu này,
    Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta.
    Cấy cày vốn nghiệp nông gia,
    Ta đây trâu đấy ai mà quản công.
    Bao giờ cây lúa còn bông,
    Thời còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
    . . . . .
2. Cái cò cái vạc cái nông
    Sao mày dẵm lúa nhà ông hỡi cò.
    Không, không, tôi đứng trên bờ,
    Mẹ con nhà nó đổ ngờ cho tôi.
   Chẳng tin thì ông đi đối,
   Mẹ con nhà nó còn ngồi đây kia.
   Con cò mà đi ăn đêm
   Con cò mà đi ăn đêm,
   Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
   Ông ơi, ông vớt tôi nao,
   Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.
   Có xáo thì xáo nước trong,
   Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con.
     . . . . . .
     Thai nhi trong bụng mẹ bắt đầu nghe được tiếng động và giọng của mẹ từ tháng thứ 4 (mặc dù hệ thống tai-nghe hoàn thành vào tháng thứ 6). Theo nhiều nghiên cứu khoa học, mặc dù thai nhi nằm trong nước ối và được bao bọc bởi nhiều lớp cơ, màng, có thể nghe được tiếng động, tiếng nhạc, nhịp nhanh chậm, tông độ cao thấp, v.v... gần như chính xác. Tiếng nói của mẹ có cường độ mạnh vì truyền theo cơ thể thẳng vào tử cung. (Busnel, Granier-Deberre, and Lecanuet 1992)
      Tiếng động có khả năng thay đổi nhịp tim của thai nhi. Chỉ qua 5 giây, tiếng động kích thích có thể làm thay đổi nhịp tim kéo dài 1 tiếng đồng hồ. Nhiều tiếng nhạc làm thay đổi chuyển hóa. Trong một cuộc khảo cứu, khi trẻ sinh thiếu tháng được cho nghe bài nhạc "Lullabye" của Brahms 5 phút, 6 lần mỗi ngày rõ ràng có lớn nhanh hơn những trẻ tương tự. (Chapman, 1975)
       Nhịp điệu của bài hát đem lại cảm giác "an toàn" có thể vì làm nhớ lại nhịp điệu tim đập nghe được từ những ngày tháng còn trong lòng mẹ. Giọng nói, tiếng ru của mẹ bên tai cho trẻ biết đang được người bảo bọc.
        Một số nghiên cứu gần đây cho thấy ru bằng những nguyên âm không thành câu ("humming") dễ làm trẻ ngủ hơn là hát thành bài có câu cú rõ rệt.(Trích từ Wikipedia).
    Ầu ơ ... ví dầu
    Cầu ván đóng đinh
    Cầu treo lắc lẻo
    Gập ghềnh khó qua
       ...........
    Ầu ơ ...
    Khó qua mẹ dắt con qua...
    Con đi trường học
    Mẹ đi trường đời ...
    Qua thực tiễn của sự tiến bộ, nhiều bà mẹ tự cho mình là người hiện đại đã tự bỏ mất nhiều nét độc đáo trong mối quan hệ mẫu tử: không biết hát ru, không cho con bú sữa mẹ, không chăm sóc và gần gủi thường xuyên đứa con mình mang nặng đẻ đau . . . điều này góp phần làm cho mối quan hệ thiêng liêng ngày càng thiếu gắn bó. Khi thiếu mối quan hệ này thì sẽ dẫn tới hệ quả không tốt: Tôn kính cha, mẹ; Tấm lòng hiếu thảo; . . . Nhưng những điều đó là những biểu hiện tạo nên một nét văn hóa độc đáo của gia đình Việt Nam.   



Thứ Ba, 23 tháng 11, 2010

Tham khảo “ĐỔI MỚI GIÁO DỤC”

(Trích theo nội dung chương thực tiễn đa dạng về cải giáo dục – định hướng đổi mới và phát triển ở một số nước. trong Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý nhà trường – nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà nội– năm 2007).

Giáo dục Nga: Mục tiêu “Bảo đảm chất lượng hiện đại của giáo dục, góp phần khôi phục vị trí hàng đầu của Nga trên thế giới”.
   Vào những năm 90 của thế kỷ XX, Nga cải cách giáo dục dựa trên 2 nguyên tắc cơ bản:
   -Giáo dục phải đóng vai trò hàng đầu trong phát triển con người và điều kiện quyết định sự phát triển xã hội và là động lực cho mọi cải cách thuộc mọi giai đoạn của đời sống.
   -Hệ tư tưởng , nội dung và phương pháp giáo dục phải được xem xét lại để góp phần xây dựng xã hội mới.
         Năm 2000 Duma Nga phê chuẩn Quyết sách quốc gia về giáo dục Nga đến năm 2025.
Giáo dục Nhật: Mục tiêu “Đem lại sức sống mới cho nhà trường, gia đình và công đồng”.
   Người Nhật bước vào thế kỷ XXI với tham vọng xây dựng một đất nước hùng cường và dẫn đầu thế giới. Giáo dục được coi là nền tảng trong 100 năm tới của quốc gia.
   Nhật tiến hành cải cách giáo dục lần 1 vào năm 1872, trong thời vương triều Minh Trị. Cải cách thành công chuyển nền giáo dục truyền thống sang giáo dục hiện đại, bắt nhịp với cuộc cách mạng công nghiệp.
Nhật tiến hành cải cách giáo dục lần 2 vào năm 1947, sau thế chiến thứ 2. Và được đánh giá là Động lực hàng đầu cho sự phát triển Kinh tế -Xã hội của Nhật.
   Năm 2000, Thủ tướng Nhật thành lập Ủy ban quốc gia cải cách giáo dục. Ba mục tiêu cơ bản đề ra:
   -Người học được bồi dưỡng tinh thần nhân văn phong phú;
   -Hệ thống giáo dục tạo điều kiện phát huy năng lực cá nhân và bồi dưỡng tài năng sáng tạo;
   -Tạo dựng các nhà trường mới phù hợp với yêu cầu của thời đại mới.
Giáo dục Mỹ: Mục tiêu “Vì sự ưu tú trong giáo dục”.
   Bản báo cáo “Đất nước lâm nguy” năm 1983 nói về kết quả học tập của học sinh Mỹ bắt đầu thua kém với một số nước phát triển. Nêu lên chất lượng giáo dục còn nhiều khuyết điểm . . . . Dẫn đến nước Mỹ phải cải cách giáo dục. Cải cách phải hướng tới sự ưu tú trong giáo dục. Cải cách giáo dục ở Mỹ cần sự cam kết của nhà nước và sự đồng tâm hợp lực của toàn xã hội.
   Các nhà giáo dục Mỹ yêu cầu phải hiểu sự bình đẳng về cơ hội giáo dục không phải chỉ là sự bình đẳng được đến trường mà còn là sự bình đẳng trong việc thụ hưởng giáo dục có chất lượng.
Nên Mỹ đã tiến hành cuộc cải cách giáo dục toàn diện.
Giáo dục Thái Lan: Mục tiêu “Giáo dục để kiến thiết quốc gia, tăng sức mạnh cá nhân và tạo công ăn việc làm mới”.
   Đầu những năm 1990 mục tiêu cải cách giáo dục Thái lan là chuẩn bị những công dân tương lai đủ năng lực đáp ứng các thách thức của tòan cầu hóa và quốc tế hóa. Cuộc cải cách không mệt mõi. Toàn bộ các họat động cải cách từ cải cách việc học ở trường phổ thông, cải cách giáo dục Đại học, đến cải cách cơ chế tài chánh, cải cách hệ thống quản lý đều hướng tới việc xây dựng một xã hội học tập.

      Qua kết quả về cải cách, đổi mới giáo dục một số quốc gia trên thế giới, khu vực như đã nêu trên đã cho chúng ta một nhận thức: quản lý giáo dục là một quản lý động; mối quan hệ giữa giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội là mối quan hệ biện chứng có tính cân bằng động.
       Do đó,
       Theo tôi chúng ta có thể nói “Giáo dục luôn có sự đổi mới ở bất kỳ không gian và thời gian”.

Chủ Nhật, 21 tháng 11, 2010

Tham khảo "TỔ CHỨC BIẾT HỌC HỎI"

       Trong lý luận quản lý và tổ chức hiện đại, một triết lý mới, một thái độ mới, một cách tiếp cận mới đang được nghiên cứu và phổ biến ngày càng rộng rải đối với thực tiển xây dựng và quản lý tổ chức.
       Các nhà khoa học quản lý đưa ra khái niệm như sau: “Tổ chức biết học hỏi là một tổ chức trong đó mọi thành viên được huy động, lôi cuốn và việc tìm kiếm, phát hiện và giải quyết những vấn đề làm cho tổ chức có khả năng thực nghiệm cách làm mới, phát triển và cải tiến liên tục khiến tổ chức có khả năng đạt được mục tiêu hiệu quả nhất”.
      Khái niệm trên cho ta thấy trong quản lý tổ chức là một loại quản lý động, mọi thành viên không ngừng học tập để phát triển trên tinh thần tự giác, tinh thần cầu tiến và tinh thần đồng đội cao.
        Nếu ta xem xét lịch sử cái “Học” thì sẽ thấy rõ việc học luôn phát triển không ngừng. Như ở Châu Âu: Thề kỷ 18 quan niệm học là để biết cách nhận thức; thế kỷ 19 thì học để biết cách hành động; thế kỷ 20 học để biết cách tồn tại và thế kỷ 21 học để biết cách cùng chung sống.
        Đối với Việt Nam có câu: “Ăn, nói, gói, mở”
        Học ăn chính là biết lĩnh hội; học nói chính là biết diễn đạt; học gói chính là biết kết thúc vấn đề và học mở chính là biết mở đầu một vấn đề. Như vậy mọi người phải luôn học hỏi không ngừng để biết “ăn, nói, gói, mở”.
       Muốn xây dựng được một tổ chức biết học hỏi thì người quản lý phải nắm rõ kỹ năng cơ bản sau:
-          Tư duy hệ thống (System Thinking).
-          Quan điểm hay tầm nhìn chia sẻ (Shared Vision).
-          Mô hình tinh thần có tính thách thức (Challenging Mental Models)
-          Học hỏi có tính đồng đội (Team learning).
-          Làm chủ bản thân (Personal Mastery).
Việc thiết kế, xây dựng một tổ chức biết học hỏi là thực hiện sự biến đổi cụ thể các lãnh vực: Lãnh đạo-Chỉ đạo; Cấu trúc tổ chức; Sự ủy quyền; Chia sẻ thông tin; Chiến lược phát lộ và Văn hóa mạnh mẽ.
Ở đây tôi xin nói thêm vài ý về Văn hóa. Chúng ta đều biết văn hóa là những giá trị, những niềm tin, sự hiểu biết, các chuẩn mực được các thành viên trong tổ chức chia sẻ. Có thể khẳng định văn hóa là nền tảng của một tổ chức biết học hỏi. Nó phải mạnh mẽ 3 lãnh vực sau:
- Cái toàn thể là quan trọng hơn cái bộ phận, ranh giới giữa các bộ phận phải giảm thiểu đến mức thấp nhất.
- Văn hóa là phải bình đẳng với tất cả mọi thành viên.
- Các giá trị văn hóa phải đạt đến cái thiện và thích nghi.
Hiện nay chúng ta đang chủ trương xây dựng một xã hội học tập, trong đó người người học tập, nhà nhà học tập và học tập không ngừng.
      Vì vậy, xây dựng một tổ chức biết học hỏi cũng trở thành một nhu cầu trong công tác quản lý nên những người quản lý phải đặt biệt quan tâm.
       Các bạn là những nhà quản lý giáo dục, các bạn có suy nghĩ gì về tổ chức của mình?