CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI HUỲNH RẠNG Blog (Lập ngày 21-10-2010)


THỜI GIAN SỐNG CỦA CON NGƯỜI KHÔNG DÀI; HÃY SỐNG NHƯ THẾ NÀO CHO ĐỜI NGƯỜI CÓ Ý NGHĨA .

Bạn hãy nghĩ về cuộc đời mình đã có ý nghĩa chưa? đã làm được gì cho gia đình, bạn bè và mọi người? Một việc dù nhỏ nhưng tạo ra hạnh phúc cho mình và người khác thì đã góp phần cho cuộc sống ta có ý nghĩa.

Thứ Ba, 8 tháng 11, 2011

Đặc trưng nền giáo dục Hoa Kỳ

     (Tham khảo nền giáo dục Hoa Kỳ - phần 1)
     Đặc trưng nền giáo dục Hoa Kỳ đối với nhiều người thuộc các nền văn hóa khác, hệ thống giáo dục Hoa Kỳ có vẻ hết sức rộng lớn và đa dạng đến độ khó tìm thấy các điểm chung.
     Tuy nhiên, trong cái mớ phức tạp và “trăm hoa đua nở” đó, nền giáo dục Hoa Kỳ lại phản ảnh một cách xuất sắc lịch sử, văn hóa và các giá trị xã hội của một đất nước luôn luôn đổi mới và liên tục tiến bộ. Nhìn chung, nét đặc thù của nền giáo dục Hoa Kỳ được thể hiện qua các tính cách như tầm cỡ lớn lao, tổ chức hoàn bị, địa phương hóa rõ rệt, cạnh tranh mạnh mẽ, phẩm chất cao, và ngày càng đa văn hóa.

1. Tầm cỡ lớn lao
     Các trường học tại Hoa Kỳ -công cũng như tư, tiểu học và trung học, đại học công tiểu bang và đại học tư- chỗ nào cũng có, và Hoa Kỳ tiếp tục điều hành một trong các hệ thống giáo dục vĩ đại nhất thế giới. Theo các con số của Viện Thống Kê Giáo Dục Quốc Gia Hoa Kỳ, trong niên khóa 2007-2008, có hơn 75 triệu trẻ em và người lớn ghi danh theo học tại các trường tiểu học, trung học và đại học tại Hoa Kỳ. Thêm vào đó, còn có khoảng 6.8 triệu giáo viên và giáo sư làm việc tại các trường từ mẫu giáo tới đại học. Theo Sở Thống Kê Hoa Kỳ, số học sinh và sinh viên theo học tại các trường công lập ở Hoa Kỳ gia tăng mạnh mẽ nhất là trong giai đoạn từ 1956 tới 1964, tức là sau Thế Chiến 2 và Chiến Tranh Triều Tiên. Trong những năm đầu thế kỷ thứ 21 này, sĩ số ghi danh tại các học đường Mỹ lại lên cao nhờ mức độ gia tăng mạnh mẽ của người dân Mỹ gốc Hispanic và các sắc dân nhập cư khác.

     Hệ thống giáo dục Hoa Kỳ ngày nay bao gồm khoảng 96,000 trường tiểu học và trung học, cộng với hơn 4,200 trường đại học, tính từ các trường đại học cỡ nhỏ hệ 2 năm cho đến các trường đại học tiểu bang cỡ lớn với các chương trình bậc cử nhân, cao học và tiến sĩ có sĩ số từ 30,000 sinh viên trở lên. Trong số các trường đại học, loại trường đại học công tiểu bang (state universities) thường có kích thước lớn lao hơn, bởi vì trên thực tế thì các trường này chiếm hơn phân nửa sĩ số sinh viên đại học trên toàn quốc. Các trường đại học tại Hoa Kỳ cạnh tranh nhau rất mạnh mẽ, một phần cũng là nhờ ở tính tự trị trong ngân sách của mỗi trường. Sự kiện này cũng giải thích tại sao nhiều trường đại học tại Hoa Kỳ có phẩm chất giáo dục rất cao so với các học viện khác trên thế giới. Chi phí hằng năm dành cho hệ thống giáo dục tại Hoa Kỳ, tính trung bình, lên tới mức $878 tỉ.

2. Trường công và trường tư

     Có những trường công và tư trên toàn cõi liên bang Hoa Kỳ. Trong số phỏng định 55.8 triệu học sinh tiểu học và trung học trong niên khóa 2007-2008, có khoảng 6 triệu học sinh ghi danh theo học tại các trường tư, chiếm 11% sĩ số. Trong khi hầu hết các trường bậc tiểu học và trung học tại Hoa Kỳ là trường công, phân nửa các trường đại học tại đây là những trường tư, bao gồm những trường đại học danh tiếng như Harvard, Yale và Georgetown.

     Các trường đại học công được tài trợ phần nào qua ngã thành phố và tiểu bang hoặc có khi là liên bang. Sinh viên cư trú tại thành phố hoặc tiểu bang nhà trả học phí thấp hơn bởi vì một phần số tiền thuế mà gia đình họ đóng đã được dùng để trợ giúp vào phần học phí của họ. Những sinh viên không thuộc quy chế thường trú tại Hoa Kỳ phải trả tiền học cao hơn.

     Các trường đại học tư (colleges và universities) được tài trợ phần chính là do lệ phí sinh viên phải đóng và tiền quyên tặng của các tổ chức tư nhân. Nhiều trường tư có liên hệ hoặc có gốc gác từ các tôn giáo như Công Giáo La Mã, Tin Lành, Hồi Giáo và Do Thái Giáo. Sinh viên tại các đại học tư này không cần phải có đạo mới theo học được, nhưng họ phải lấy một số các lớp hoặc môn thần học liên hệ tới các tôn giáo nói trên mới đủ điều kiện tốt nghiệp.


3. Chi phí theo học đại học

     Chi phí theo học đại học tại Hoa Kỳ có thể thay đổi thật lớn lao, từ rất ít tiền cho tới khoảng $50,000 cho một niên khóa. Chi phí này bao gồm học phí, ăn ở và các chi tiêu về sách vở cũng như học cụ. Tính đổ đồng, chi phí theo học tại nhiều trường đại học có phẩm chất cao ở Hoa Kỳ là từ $20,000 cho tới $30,000 một năm.

4. Giá trị của nền giáo dục đại học Hoa Kỳ

     Theo các con số thống kê năm 2008 của Sở Thống Kê Hoa Kỳ, số tiền lương trung bình mà một người Mỹ chỉ học tới lớp 9 (khoảng 16 tuổi) kiếm được là $25,900 một năm. Những người có bằng cử nhân (Bachelor's degree) kiếm được $45,000 một năm, và những người có bằng cao học (Master's degree) kiếm được $72,800 một năm. Những người có bằng tiến sĩ (cỡ Ph.D.) kiếm được trung bình $81,000 một năm.

5. Tính đa văn hóa trong giáo dục Hoa Kỳ
     Trong suốt 300 năm lịch sử dựng nước và phát triển đất nước Hoa Kỳ, các học đường là một trong những chốn nơi đầu tiên vừa hấp thụ vừa du nhập các nền văn hóa đa dạng của di dân từ khắp nơi trên thế giới tới định cư trên đất nước này. Các trường học tại Hoa Kỳ, cũng giống như xã hội bên ngoài, ngày càng đa dạng về chủng tộc và văn hóa. Hồi đầu thế kỷ thứ 20, con cái của các gia đình di dân -mà hầu hết là từ Nam và Ðông Âu-tràn ngập các trường công ở miền Ðông Bắc và Trung Tây Hoa Kỳ. Ngày nay, các di dân mới tiếp tục làm thay đổi số lượng cũng như thành phần học sinh và sinh viên tại Hoa Kỳ, và số lượng học sinh và sinh viên nhập cư lớn nhất phải nói là đến từ các quốc gia Mỹ Châu La-tinh và Á Châu.

     Học sinh Mỹ gốc Phi Châu chiếm 17% sĩ số tại các trường tiểu học và trung học. Tuy vậy, học sinh gốc Hispanic đang chiếm sĩ số lớn nhất tại các trường công. Cũng là điều bình thường hiện nay khi thấy nhiều học sinh và sinh viên tại các trường học, đặc biệt là dọc theo duyên hải miền Ðông và miền Tây, lúc về tới nhà đã nói hằng chục thứ ngôn ngữ không phải là tiếng Anh, như tiếng Ả Rập, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Việt, bởi vì cha mẹ và ông bà họ là những di dân đến từ nước ngoài. Cũng chính vì thế mà, cho mãi tới bây giờ, các chương trình dạy tiếng Anh làm sinh ngữ thứ nhì vẫn giữ nguyên tầm mức quan trọng như hồi thế kỷ trước.  Và mặc dù mang tính địa phương hóa và đa văn hóa như vậy, các trường công lập tại Hoa Kỳ vẫn mang một mẫu số chung và có mối liên hệ rất cao trên khía cạnh tổ chức và điều hành. Một sinh viên chuyển trường từ California sang Pennsylvania hoặc Georgia sẽ gặp những khác biệt đương nhiên phải có, nhưng, nhìn chung, nội dung các môn học thì ở đâu cũng thế. Ðiều cần ghi nhận là chính phủ liên bang Hoa Kỳ không hề bắt buộc các trường trên toàn quốc phải tuân theo một học trình chung hoặc bắt các trường phải dạy dỗ theo một tiêu chuẩn nào đó như tại nhiều quốc gia khác trên thế giới. 

Thứ Hai, 31 tháng 10, 2011

"Lẽ sống" và "Đạo làm người"


     Người Việt gắn liền quê hương với Tổ quốc tôn kính như Mẹ đẻ của mình. Mong muốn đem hết trí tuệ và sức lực cống hiến để xây dựng, sẵn sàng sả thân chiến đấu để bảo vệ, "thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ" (Hồ Chi Minh). Tràn ngập niềm tự hào mỗi khi nhắc tới những trận thắng oanh liệt của tổ tiên ông cha trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm; Khi nghe những vần thơ hùng tráng: "Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư" của danh tướng Lý Thường Kiệt; hoặc câu trả lời đanh thép của Trần Bình Trọng trước kẻ thù: "Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc"...
      Tình cảm thiêng liêng với quê hương, Tổ quốc chính là truyền thống cội nguồn.
     Ca dao, tục ngữ có câu: "Một giọt máu đào hơn ao nước lã", "Khôn ngoan đối đáp người ngoài/ Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau", hoặc "thuận vợ, thuận chồng tát bể Đông cũng cạn". Người Việt rất coi trọng quan hệ dòng tộc và coi gia đình là sự sống còn của hạnh phúc. Nhìn vào lăng mộ, vào nhà thờ Tổ sẽ thấy được sự bề thế và gia giáo của một dòng tộc. Quan hệ trong dòng tộc tình cốt nhục được coi là nền tảng và vai vế thứ bậc là căn cứ để ứng xử. Khổng Tử dạy: "Cái mũ dù có cũ, có xấu cũng là thứ để đội trên đầu chứ không phải để đi dưới chân. Đôi giầy dù mới, dù đẹp cũng là thứ để đi dưới chân chứ không phải để đội trên đầu". Nghĩa là phải có tôn ti trên dưới, nền nếp gia phong. Lòng nhân từ bác ái được dạy dỗ, tinh thần vượt khó hiếu học được khuyến khích, nhiều dòng họ lập văn chỉ khắc tên những người đỗ đạt cao thuộc huyết thống vào bia đá. Ngoài xã hội có quyền cao chức trọng thế nào, có vang danh nổi tiếng đến đâu nhưng trong dòng tộc vẫn phải rất khiêm nhường, phải tự biết mình là "mũ” hay "giầy" mà cư xử, phải đặt hiếu đễ lên đầu. Nước có quốc pháp, nhà có gia pháp. Vua Tự Đức rất mê đi săn. Có lần mải săn về muộn, quá giờ vấn an mẹ già. Thuyền vừa cập bến bên Điện Thái Hoà, nhà vua vội lật đật đi vòng sang toà lầu của Thái hậu, lom khom đến trước ngự tiền, vội quỳ, hai tay kính cẩn dâng roi cho mẹ rồi nằm xuống chịu đòn. Nhà vua đã để lại cho hậu thế tấm gương về phép tắc gia giáo.
     Đã là Đạo làm người thì bậc đế vương thế, mà thảo dân cũng vậy. Không chỉ cư xử lễ độ với cha mẹ mà với cả họ hàng ruột thịt, hàng xóm xa gần. Chúng ta ai cũng như ai, được tạo hoá sinh ra. Rồi do năng lực cá nhân, do phân công xã hội, do may rủi của số phận mà mỗi người làm một việc khác nhau, vị thế khác nhau, học vấn khác nhau, quyền lực và đời sống khác nhau. Dù gì đi nữa thì cũng đều là người, đều bình đẳng trước pháp luật, đều có chung cội nguồn hoặc cùng quê hương. Nếu may mắn phát đạt giầu có hay quyền cao chức trọng cũng đừng vênh váo với bà con họ hàng làng xóm, mà nên nghĩ cần làm gì để giúp đỡ mọi người, thế mới hợp đạo lí.
     So với cộng đồng xã hội và dòng tộc, gia đình hẹp hơn nhiều nhưng lại không kém phần phức tạp, đặc biệt trong các mối quan hệ từ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, anh em, con cháu đều có vai trò rường cột của tổ ấm hạnh phúc, mà cái gốc là Đạo hiếu, Đạo nghĩa, Đạo đễ, Đạo từ... Một gia đình sống không có kỉ cương tất sẽ dẫn tới bi kịch, nhất là lúc về già. Đã là gia đình thì mọi người phải biết gắn kết nhau, thương yêu đùm bọc nhau, hoạn nạn cùng chia, phú quý cùng hưởng. Gia đình luuôn là cái nôi, là tổ ấm, là pháo đài, nâng đỡ, đùm bọc, che chở cho mỗi cuộc đời, là chốn ẩn náu cuối cùng cho mọi bất hạnh, song cũng là quyền lực tối cao giám sát lương tâm chặt chẽ và khắc nghiệt. Ngoài xã hội anh có thể phạm tội, bị kết án, thậm chí bị tù. Nhưng mãn hạn ra khỏi trại giam, com-lê, ca-vạt từ trên xe "xịn' xuống, bước vào nhà hàng, khách sạn, lập tức các nhân viên niềm nở cúi đầu cung kính, hoặc tha hồ cười nói vui vẻ trong quán nhậu. Không ai biết anh đã từng là phạm nhân, bởi thế không hề cảm thấy lòng tự trọng bị tổn thương. Nhưng phạm tội với gia đình thì không. Dù chẳng toà nào xét xử, tuyên án, nhưng lương âm dằn vặt và suốt ngày đêm anh luôn bị ám ảnh bởi những ánh mắt của người thân từ bố, mẹ, vợ, con kể cả lân bang hàng xóm. Sống trong hoàn cảnh ấy đau lắm. Mà nỗi đau phải chịu một mình thì rất sâu, rất lâu.
     Trong gia đình tình nghĩa vợ chồng đặc biệt quan trọng bởi nó ảnh hưởng và chi phối các mối quan hệ khác. Ở đời, tình yêu và hôn nhân thuộc hai phạm trù khác nhau. Thống nhất chứ không đồng nhất. Có mấy ai thành công cả tình yêu lẫn hôn nhân. Bởi tiêu chí để chọn đối tượng trong hai lĩnh vực đó nhiều khi không giống nhau. Khi yêu anh thường bị quyến rũ bởi "hồn" người đẹp từ ánh mắt, nụ cười, mái tóc, dáng điệu, giọng nói, thời trang và tình yêu "sét đánh" khiến anh bị chinh phục. Nhưng để quyết định hôn nhân anh lại phải bình tĩnh tỉnh táo. Các yếu tố tình cảm lại phải được kiểm soát bằng lí trí để nhìn nhận ở người phụ nữ vẻ đẹp của tình thương chồng, thương con, biết cư xử có đạo lí, biết lo toan gia đình, cần cù chịu khó, bản lĩnh vững vàng trước mọi khó khăn. Đó là vẻ đẹp của bản chất thuộc cái "tâm" chứ không phải chỉ "hồn", không phải hình thức bên ngoài son phấn chưng diện. Ở đời có nhiều vẻ đẹp lắm. Vấn đề là chọn loại nào để sống và loại nào để ngắm. Người phụ nữ khi chọn bạn đời cho hôn nhân của mình cũng thận trọng như vậy. Vợ chồng sống với nhau bằng đạo nghĩa. Nền tảng của đạo nghĩa là tình thương, trong đó có tình yêu. Lấy tình thương làm nền tảng tức là sự bền vững của hôn nhân sẽ được bảo đảm.Vì tình thương, không chỉ với bạn đời của mình, mà với cả con, cháu và những người thân trong gia đình, ta có thể vượt qua mọi khó khăn thử thách, có thể rộng lượng tha thứ cho nhau những lỗi lầm, nhẫn nhịn chịu đựng và giúp đỡ, chờ đợi nhau khi cần thiết để giữ gìn, bảo vệ cuộc sống hạnh phúc lâu dài. Trong gia đình nếu người chồng là ngôi nhà, thì người vợ là nền móng. Phải học để biết làm chồng, làm bố, làm vợ, làm mẹ. Tự học, học ở sách báo, ở đời là chính, suy ngẫm về đạo lí rồi rút ra là chính. Trong cuộc sống có phụ nữ làm đàn bà rất giỏi, nhưng không biết làm vợ, làm mẹ. Có những chàng trai làm đàn ông thì được, nhưng không biết làm chồng, làm cha. Có người quản lí điều hành một cơ quan, doanh nghiệp lớn rất giỏi, nhưng quản lí điều hành cái gia đình nhỏ của mình lại rất dở. Xử lí các mối quan hệ xã hội thì bình tĩnh, sáng suốt và chính xác. Nhưng khi xử lí các mối quan hệ gia đình lại lúng túng, bị động, mò mẫm và dễ sai lầm. Vì sao? Vì việc xã hội có cách giải quyết của xã hội, chuyện nhà có cách giải quyết trong nhà. Vì sao? Vì từ lâu họ đã không đặt gia đình đúng với vị trí quan trọng của nó, vị trí có ý nghĩa quyết định sự sống còn của hạnh phúc, của cả cuộc đời, không chỉ với một, mà nhiều người. Không lấy tình thương làm nền tảng, không biết tới Đạo hiếu, Đạo nghĩa, Đạo đễ, Đạo từ... để cư xử. Không dành nhiều thời gian, tâm huyết suy nghĩ và làm việc cho nó như đã dành cho cơ quan, cho xã hội. Không nghĩ rằng lo để lại cho con cháu đất đai, nhà cửa, xe cộ, tiền vàng thậm chí cả quyền lực nữa là cần thiết, nhưng cao hơn thế, quan trọng hơn thế, sâu sắc hơn thế và an toàn hơn thế là để lại cho con cháu cuộc đời lương thiện, giàu nhân cách, được học hành, biết làm theo luật, sống theo đạo, không thù oán, nhiều ân nghĩa. Tài sản vật thể có thể xin, hoặc mua được, nhưng tài sản phi vật thể thì không, mà phải do chính mình làm ra bằng khổ công tu luyện và trân trọng giữ gìn. Ngoài đời thế, mà trong gia đình cũng thế, mỗi người đều có một thế giới riêng, đều có chuyện quan trọng phải nghĩ, phải lo, phải làm. Điều ấy là tất nhiên, hợp lí và phải đạo. Nhưng khi cái quan trọng của người này lại xa lạ với người kia thế là sẽ sống khác nhau, mầm mống của sự xa cách, thậm chí rạn nứt sẽ xuất hiện.Cùng một mái nhà mà có lúc cảm thấy xa lạ, thấy cô đơn, thấy không thể chia sẻ giãi bày với ai, do vậy mà nỗi buồn càng sâu. Bởi thế, phải biết tạo ra bầu trời chung thì mới gắn kết nhau được. Bầu trời chung đó chính là những truyền thống cội nguồn, là những điều giáo huấn của Đạo làm người. Ở đời chính kiến có thể thay đổi tuỳ theo thế cuộc và nhận thức, nhưng Đạo làm người thì không. Trong chính trị có thể nhất thời liên minh với ma quỷ, nhưng trong kết bạn thì không, mà phải biết chọn người có đạo.
     Tóm lại, người ta khi ở dương gian, tâm hồn và thân xác đều phải làm theo luật, sống theo đạo. Mà quan trọng nhất là Đạo làm ngườin

MÙA THU LÁ ĐỔI MÀU?

     Bạn có bao giờ tự hỏi màu vàng, màu đỏ rực rỡ của cây lá mùa Thu từ đâu mà có? Câu trả lời đang dần được các nhà nghiên cứu khám phá ra...
Những sắc màu quyến rũ đó chính là kết quả của quá trình nỗ lực gian nan nhằm sinh tồn của các loài cây.

     Nhớ lại từ những kiến thức sinh học ở trường phổ thông, chúng ta đều biết rằng màu xanh của lá cây có được là do chất diệp lục tạo nên. Khi tiết trời chuyển sang Thu, lá bắt đầu chuyển sang màu vàng hoặc đỏ. Điều đó hoàn toàn không chứng tỏ chúng đang chết đi mà thay vào đó là biểu hiện bên ngoài của một chuỗi những quá trình rất thông minh đang diễn ra bên trong chiếc lá.
     Hẳn bạn sẽ không lấy làm lạ nếu biết rằng lá vàng và lá đỏ trải qua hai quá trình chuyển hóa khác nhau. Khi chất diệp lục không còn hoạt động, hầu hết các loại lá chuyển sang màu vàng. Đây là một loại màu sắc vốn đã tồn tại sẵn trong lá nhưng bị lấn át bởi sắc xanh vào các mùa sinh trưởng của cây.
     Nhưng trong khoảng một thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra một cơ chế rất khác ở lá đỏ. Khi diệp lục ngừng thực hiện chức năng của mình, lá cũng sẽ chuyển thành màu vàng nếu như không có sự sản sinh rất nhanh chóng của một loại chất tạo màu tên là Anthocyanin. Nó là một loại chất không có sẵn ở trong lá.
     Có một giả thiết được đưa ra rằng, màu đỏ của lá mùa Thu chính là kết quả của 35 triệu năm trong cuộc đấu tranh giữa cây cối và sâu bọ khi chúng tìm kiếm thức ăn và nơi đẻ trứng vào mùa Thu. Màu lá đỏ sẽ gây khó khăn cho sâu bọ trong việc nhận biết, nên chúng có xu hướng đi tìm những cây có lá màu vàng
Sự khác biệt giữa màu lá cây vào mùa thu ở Bắc Mỹ và châu Âu có thể được xem là bằng chứng cho giả thiết này. Ở châu Âu, lá các loại cây bản địa hầu hết đều chuyển sang màu vàng. Tuy nhiên, ở Bắc Mỹ, số lượng cây lá chuyển đỏ lại nhiều tương đương với số lượng cây lá chuyển vàng.
     Lý do để giải thích cho việc này có thể là ở Bắc Mỹ, cũng như ở Đông Á, những dãy núi chạy theo hướng Bắc – Nam, trải dài theo đó là những vùng phân bố thời tiết khác nhau. Từ đó kéo theo hệ quả là cây cối trong các khu rừng cũng thay đổi theo thời tiết nơi chúng sinh trưởng, cùng với sâu bọ và cuộc chiến không đội trời chung với loài này.
     Trong khi đó, ở châu Âu, các dãy núi lại chạy theo hướng Đông – Tây. Vậy nên khi thời tiết trở nên ấm áp hoặc mát mẻ, cây cối không còn sự lựa chọn nào khác là chết đi, cùng với các loài sâu bọ đang sống ký sinh trên chúng. Do đó ở châu Âu, cuộc chiến giữa cây cối và sâu bọ có lịch sử ngắn hơn rất nhiều.
     Giả thiết này được đưa ra bởi giáo sư Simcha Lev-Yadun, hiện đang công tác tại khoa Khoa học Giáo dục - Sinh học, trường Đại học Haifa - Oranim và Jarmo Holopainen, thuộc hệ thống trường Đại học Kuopio ở Phần Lan. Giả thiết này đã được đăng trên báo New Phytologist.
     Một giả thiết khác cho rằng sự khác biệt giữa lượng sắc tố Anthocyanin ở lá cây sống trong cùng một khu vực có thể liên quan đến độ màu mỡ của đất nơi cây sinh trưởng. Chúng phản ánh nỗ lực giữ lại lượng chất dinh dưỡng lá cây đã tổng hợp được trong vòng đời của mình.
     Một khảo sát sơ bộ với cây phong lá đỏ và cây sweeg gum (loại cây có hình dạng lá giống lá phong đỏ nhưng màu xanh) của một sinh viên tại Charlotte, N.C đã cho thấy sự liên quan giữa màu lá cây vào mùa Thu và chất lượng đất. Nơi đất thấp giàu dinh dưỡng hơn, lá cây hầu hết chuyển sang màu vàng vào mùa Thu. Còn ở những vùng đất cao khô cằn, lá cây lại chuyển sang màu đỏ. “Sự liên hệ được thể hiện rất rõ ràng”, nhà sinh lý học cây trồng Bill Hoch thuộc Đại học MontanaBozeman cho biết. Hơn thế nữa, những khám phá này tương đồng với kết quả ông tìm được về chức năng của chất Anthocyanin kỳ diệu. “Các kết quả thí nghiệm là một minh chứng rất rõ ràng cho việc Anthocyanin giúp cây lấy được lượng dinh dưỡng tối đa tổng hợp từ lá trước khi chúng lìa cành”, Hoch phát biểu với Discovery News trong một bài báo vào tháng 10/2007.

     Ông giải thích rằng quá trình quang hợp ánh sáng trong lá vào mùa Thu càng diễn ra lâu bao nhiêu thì lượng chất dinh dưỡng được dự trữ để sử dụng trong mùa Xuân càng nhiều bấy nhiêu. Vậy nên, ở nhiều nơi đất đai cằn cỗi như những quả đồi ở Bắc Carolina (Mỹ), người ta nhận ra mùa Thu khi thấy lá cây dần chuyển sang sắc đỏ rực rỡ. Khi mùa Thu đến, chất Anthocyanin bảo vệ những lục lạp xanh còn sót lại trong lá. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với những cây sinh trưởng ở nơi điều kiện khắc nghiệt, nơi đất nghèo dinh dưỡng, vì nó cho phép chúng có thể sản xuất nhiều hơn các hợp chất hữu cơ cần thiết.

             (Sưu tầm của Bích Giang - làm nhớ lại chúng minh đang học trong lớp Sinh A4)